Thứ Ba, 24 tháng 2, 2015

12 Trực

“LẢM NHẢM” VỀ 12 TRỰC
Lão Lười
    Trong môn Trạch cát [Chọn lành], Trực là một yếu tố căn cứ “tiền đâu” đầu tiên để xem xét tốt xấu của thời điểm muốn lựa chọn [tháng, ngày, giờ].
    A- Một năm Dương lịch được chia ra làm 24 Tiết khí. Trong đó bao gồm 12 Tiết khí [Minor Solar Terms] và 12 Trung khí [Major Solar Terms]. Khoảng cách giữa hai Tiết khí gần nhau gọi là một tháng tính theo Tiết khí.
    Trực là một cách gọi các vì sao trong chòm Dao Quang tinh (hay Diêu Quang, Phá Quân tinh. Thiên văn học hiện đại gọi là chòm Đại Hùng tinh) tức là chuôi của chòm sao Bắc Đẩu. Bắt đầu từ chập tối Tiết Lập Xuân, các sao này chiếu vào hướng Dần (Đông bắc) trên mặt đất.
    Thời kỳ đầu, Trực được dùng để gọi tên 12 tháng: Kiến, Trừ, Mãn, Bình, Định, Chấp, Phá, Nguy, Thành, Thu [Thâu], Khai, Bế. Về sau mới “nhảy vô” biểu thị tốt xấu của ngày. “Kiến Trừ thập nhị khách” là một cách gọi khác của Trực.
    Tự điển của cụ Thiều Chửu giải thích chữ “Kiến” là thế này: “Chuôi sao trỏ vào đâu gọi là kiến. Như lịch ta gọi tháng giêng là kiến dần , tháng hai gọi là kiến mão   nghĩa là cứ coi chuôi sao chỉ về đâu thì định tháng vào đấy vậy. Vì thế nên gọi là nguyệt kiến , tháng đủ gọi là đại kiến , tháng thiếu gọi là tiểu kiến , v.v.”.
    Vì vậy, từ Tiết Lập Xuân đến giáp Kinh Trập (tương đương tháng Giêng âm lịch) sẽ có kiến Trực là Dần [Tháng Giêng là tháng “Kiến Dần”. Tháng Hai là tháng “Kiến Mão”…]. Vì lịch Âm điều tiết tháng Giêng vào Trực này nên gọi là Kiến Dần. Lưu ý là cái “Kiến Dần” này chỉ liên quan đến phần Dương lịch (Tiết khí) chứ không phải phần Âm lịch trong lịch cổ. Trong  Âm Dương lịch hiện nay, Trực cũng được dùng như “ranh giới” phân định giữa các tháng tính theo Tiết khí bằng “thủ đoạn” gọi là “Hoà Trực”- xuất hiện hai Trực cùng tên tại thời điểm giao Tiết giữa hai tháng. Nên, khi xem lịch, thấy hai ngày liền nhau cùng mang một Trực, “hai xôi vô một chõ”, thì biết là “bố cáo” từ tháng này chuyển sang tháng khác theo Tiết khí.
    12 Trực sẽ thay đổi tuỳ theo Tiết khí:
+ Sau Lập Xuân (26/1 Dương lịch) : Kiến ở Dần; Kể tháng tương ứng: Giêng;
+ Sau Kinh Trập (25/2 Dương lịch) : Kiến ở Mão; tháng Hai;             
+ Sau Thanh Minh (26/3 Dương lịch) : Kiến ở Thìn; tháng Ba;
+ Sau Lập Hạ (26/4 Dương lịch): Kiến ở Tỵ; tháng Tư;
+ Sau Mang Chủng (27/5 Dương lịch): Kiến ở Ngọ; tháng Năm;
+ Sau Tiểu Thử (28/6 Dương lịch): Kiến ở Mùi; tháng Sáu;
+ Sau Lập Thu (29/7 Dương lịch): Kiến ở Thân; tháng Bảy;
+ Sau Bạch Lộ (29/8 Dương lịch): Kiến ở Dậu; tháng Tám;
+ Sau Hàn Lộ (29/9 Dương lịch): Kiến ở Tuất; tháng Chín;
+ Sau Lập Đông (29/10 Dương lịch): Kiến ở Hợi; tháng Mười;
+ Sau Đại Tuyết : (27/11 Dương lịch) Kiến ở Tý; tháng Một (11);
+ Sau Tiểu Hàn (27/12 Dương lịch): Kiến ở Sửu; tháng Chạp (12).

   
B- Khi Trực “nhập vô” ngày, mỗi tháng lại có một quy luật tính Trực khác nhau, tuỳ thuộc vào Can Chi của ngày. Đại để cách tính như sau:
-   Ngày lịch được đánh số theo chu kỳ Can-Chi. Can-Chi chỉ là một chu kỳ đều đặn của ngày. Can-Chi của ngày không thuộc về Âm lịch, cũng không thuộc về Dương lịch. Trực chỉ quan tâm đến phần Địa chi, không quan tâm đến Thiên can. Tháng “Kiến…” gì, thì ngày mang Địa chi trùng với Địa chi của tháng sẽ được “làm xếp” mà mang Trực “Kiến”.
-   Song song với Địa chi đó là 12 Trực: 1 Kiến, 2 Trừ, 3 Mãn, 4 Bình, 5 Định, 6 Chấp, 7 Phá, 8 Nguy, 9 Thành, 10 Thu [Thâu], 11 Khai, 12 Bế.
-   Thứ tự 12 Trực này [Kế sau Kiến là Trừ, sau Trừ là Mãn, sau Mãn là Bình…] cứ “diễu hành có trật tự” như thế đến…hết đời. Trong bản kê thần sát, có một số sao xuất hiện “đồng hành” với Trực “trên từng cây số”- nghĩa là thấy Trực đó, thì sẽ thấy thần sát đó, cứ như là “ai kêu tui đó, có tui đây” vậy. Thí dụ như Trực Phá trùng với Nguyệt Phá, Trực Thành trùng với Thiên Hỷ, Trực Khai chồng lên Sinh Khí…

    C- Khi trở thành thần sát để trạch cát, Trực mang thêm đặc tính ngũ hành và “chia bè kết cánh” thành cát thành hung, có Trực tốt thuộc “Hoàng đạo”, có Trực xấu thuộc “Hắc đạo”.
-  Ngũ hành:
Thổ
Kim
Thuỷ
Mộc
Hoả
Kiến, Mãn
Thành,Khai,Bế
    Trừ,Nguy,Thâu,Bình
Định
      Chấp,Phá

-  Hoàng hay Hắc:
    + Hoàng đạo: Định, Thành, Khai, Nguy, Chấp, Trừ.
    + Hắc đạo: Kiến, Phá, Bình, Thâu, Bế, Mãn.
   [Tính chất “Hoàng” hay “Hắc” của Trực, thực ra chỉ mang tính chất tương đối. Bởi khi trạch cát, sẽ căn cứ theo loại việc mà chọn thời điểm mang Trực phù hợp. Chứ không phải lúc nào cũng “thấy kẻ sang bắt quàng làm họ” mà cứ “bập” vào “hoàng vàng”, mà “phụ phàng” các nàng “mặt sắt đen sì hắc”].

    D-  Về ý nghĩa cát hung, tốt xấu, lành dữ của Trực, hiện cũng có nhiều “chập chập cheng cheng”. Thí dụ như cái nhìn của KS.KTS Lê Trọng Cường dưới đây, có khác với quan niệm “truyền thống” trong Thông thư, Ngọc hạp, Hiệp kỷ [Những chỗ tôi gạch dưới là những chỗ “gõ nghe leng keng”]:
1. Ngày có trực KIẾN: “Kiến” là kiến lập, khai tạo ra cái mới.
Vì vậy, vào ngày có trực này nói chung mọi việc khởi đầu đều tốt. Tuy nhiên theo cuốn “Trạch cát thần bí” thì người Trung Hoa thường không chọn ngày này để xây cất, động thổ.

2. Ngày có trực TRỪ: Cái mới đã được kiến lập thời cái cũ được loại trừ, nên sau Kiến là Trừ. Tức là giai đoạn cái mới – cái cũ ganh đua nhau, tranh tối tranh sáng. Vì vậy ít có việc thuận lợi vào ngày có trực này.

3. Ngày có trực MÃN: Theo mặt chữ thì “Mãn” có nghĩa là đầy tràn. Nghĩa là cái mới đã phát triển ở giai đoạn sung mãn, đủ đầy như trăng ngày rằm hàng tháng vậy. Thế nên những việc như cầu phúc, cúng bái, lễ tế, cầu xin nhân gian hay tiến hành vào ngày có trực Mãn. Tuy nhiên, theo tư tưởng dịch lý phương Đông thì cái gì đầy tất sẽ dừng lại và có nguy cơ tiêu giảm. Vì vậy, một số việc tốt cần phát triển thì cũng nên chú ý có thể tránh ngày này như nhận chức vụ mới chẳng hạn. Theo quan niệm của người Trung Hoa thì việc cưới xin cũng không nên chọn ngày có trực Mãn.

4. Ngày có trực BÌNH: Vì sự vật đã phát triển đến độ sung mãn thì tất phải dừng lại để hoàn thiện nên tiếp sau Mãn là Bình. Bình cũng giống như “bình định”, làm cho yên ổn, bổ sung chỗ còn khuyết tật cho thật hoàn mỹ. Vì vậy ngày có trực này là đều tốt cho mọi việc.

5. Ngày có trực ĐỊNH: Định cũng giống như Bình. Nó là sự bình đã đạt tới đầy đủ, đâu vào đó. Vậy nên mọi sự đều tốt. Tuy nhiên, những việc phá thế ổn định thì không nên ví như hội họp tranh luận, cử tướng xuất binh hay chữa bệnh.

6. Ngày có trực CHẤP: Theo nghĩa của chữ này là mắc vào, dính vào. Theo ý nghĩa của thập nhị trực thì chấp có nghĩa là giữ lại cái đã hoàn thành nhờ Bình – Định. Vậy nên tiến hành những việc có lợi cho việc lưu giữ lâu dài cái tốt cho mai sau như trồng trọt, cất giữ tiền bạc, hạt giống… Đồng thời nên kiêng những việc như xuất tiền của, dời nhà ở, xuất hành, mở cửa hàng, công xưởng…

7. Ngày có trực PHÁ: “Phá” có nghĩa là bỏ cái bất lợi, cái cũ nát. Vậy nên ngày có trực này có thể dỡ bỏ vật cũ để chuẩn bị tiến hành cái mới như dỡ bỏ nhà cũ chẳng hạn để chuẩn bị kiến tạo nhà mới.

8. Ngày có trực NGUY: “Nguy” tức là nguy hiểm. Cái mới chưa tạo dựng mà cái cũ đã bị xóa bỏ nên không biết theo cái nào, dựa vào đâu. Vậy nên muôn việc vào ngày có trực này đều là bất lợi.

9. Ngày có trực THÀNH: Cái mới đã bắt đầu được tạo ra. Vậy nên muôn việc khởi đầu có thể chọn ngày này như bắt đầu kinh doanh, nhập học, kết hôn, nhận chức, dọn nhà mới. Tuy vậy, việc tố tụng là việc cần được giải bỏ thì không nên chọn ngày có trực Thành.

10. Ngày có trực THU: “Thu” có nghĩa là gặt hái kết quả. Vậy nên ngày có sao này nên làm các công việc có sự thu hái kết quả như thu hoạch hoa mầu, ngũ cốc, dựng kho tàng, cất chứa của cải… Trái lại nên kị những công việc khởi đầu. Nhập trạch cũng vào ngày này.

11. Ngày có trực KHAI: “Khai” nghĩa là mở cửa. Vậy nên tổ chức những công việc mới như kết hôn, bắt đầu kinh doanh… Tuy nhiên cần kiêng các công việc không sạch sẽ như đào đất, chôn cất… rất kị những công việc mang tính hủy diệt như săn bắt, chặt cây…

12. Ngày có trực BẾ: “Bế” là ngưng trệ, vùi lấp, vậy nên chỉ thích hợp những công việc mang tính chất của “Bế” như đắp đập, ngăn nước, xây vá những chỗ sụt lở đê, đập, tường vách…”.
    Rồi ngay cả trong Ngọc hạp, Hiệp kỷ với những Thông thư tân thời cũng có chỗ “lập dập”, “leng keng” trong phạm vi “vận dụng” Trực cho số loại việc. Thí dụ như có sách tân thời viết về Trực Kiến, cho rằng “Thượng lương [gát đòn dông, đòn tay, kèo], nhập học [vào học], kết hôn, động thổ, lập trụ [dựng cột], y liệu [chữa bệnh], xuất hành [ra đi]: cát [Xem lại so với phần cùa KS.KTS Lê ở trên]. Đào giếng, đi đường thuỷ: hung”. Thì một quyển tân thời khác lại ghi về Trực Kiến rằng “Nói chung tốt. Đào giếng, đi tàu thuyền, động thổ xây cất, lợp mái: hung [Vì Kiến trùng với Thổ Phủ?]”.
   Một chỗ khác “giới thiệu” về Kiến như vầy: “Kiến: Tuần tự tháng 1-12, ngày: dần, mão, thìn, tị, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi, tý, sửu. Vạn vật sanh dục, cường kiện; là ngày kiện tráng. Nghi [Nên làm]: an phủ biên cảnh, chiêu hiền, cử chánh trực, giao thiệp, huấn binh, hành hạnh, khiển sử, lâm chánh thân dân, phó nhậm, thi ân phong bái, thiêm ước, thượng quan, tuyển tướng, xuất hành, xuất sư. Kị [Không nên làm]: an táng, chỉnh dung thế đầu [“sửa sắc đẹp”], chỉnh thủ túc giáp [chỉnh áo giáp tay chân], cầu tự [cầu sinh con nối dõi], cầu y, doanh kiến cung thất, giải trừ, hoại viên [bỏ vườn], hưng tạo, khai thương khố [mở kho], khải toản [?], kì phúc [cầu phúc], kết hôn nhân, liệu bệnh, nạp thái [nộp sinh lễ], phá thổ, phá ốc, phạt mộc, thiện thành quách, thượng biểu chương, thượng lương, thượng sách, thụ trụ, tiến biểu chương, tu cung thất, tu thương khố, tu trí sản thất, tài chủng, vấn danh, xuất hóa tài, động thổ.
    Còn trong Ngọc hạp Thông thư có một phần gọi là “Đổng công Trạch nhật yếu lãm”, “truyền đời” là do Đổng Trọng Thư [Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, sinh năm179 TCN - mất năm 117 TCN, là nhà triết học duy tâm thời Tây Hán, một đại diện tiêu biểu của Nho học. Tiểu sử của ông được ghi tại Sử ký, "Nho lâm liệt truyện";Hán thư, "Đổng Trọng Thư truyện", Tân luân, "Bản tạo". Đổng Trọng Thư người Quảng Xuyên (thuộc huyện Táo  Cường tỉnh Hà Bắc hiện nay). Ông xuất thân trong một gia đình đại địa chủ, thuở nhỏ đã khổ công học tập, nổi tiếng là "ba năm không ngó tới điền viên" nhằm dốc lòng nghiên cứu Công dương Xuân Thu truyện. Thời Hán Cảnh Đế (156 TCN - 141 TCN) đã nhậm chức Bác sỹ (quan chuyên giảng dạy về kinh điển của Nho gia). Lúc Hán Vũ Đế (140 TCN -87 TCN) chọn người hiền lương có học vấn, ông lần lượt vâng chiếu ba lần trả lời đối sách, dâng vua bài Thiên nhân tam sách nổi tiếng. Vũ Đế đánh giá cao kiến nghị "bãi bỏ bách gia, độc tôn Nho học", rất mau chóng tiếp nhận ý kiến này, lại bổ nhiệm ông làm Tướng quốc cho Dịch vương ở Giang Đô. Sau này do ca ngợi những biến cố tai dị (sự trừng phạt của thiên nhiên đối với con người), khuyên giải Vũ Đế vì đã giết hại đại thần thân cận, làm cho Vũ Đế phẫn nộ, ông bị cách chức và bị nhốt vào ngục. Sau khi được thả ra, ông giữ chức Tướng quốc của Giao Tây vương] lưu lại thì ngày Kiến của tháng Giêng, Hai, Ba, Tư, Sáu, Tám, Chín, 11 đều được coi là “xấu hoắc”, vô dụng, “chẳng có nước nôi” gì để dùng vào việc gì. Nói chung đây là các tháng mà Kiến bị… “cá ăn kiến”. Còn Kiến của các tháng “sống sót” kiểu… “kiến ăn cá” thì cũng chỉ có một vài con… cá lòng tong. Thí dụ như ngày Ngọ của tháng Năm, chỉ có khi nào là Giáp Ngọ, thì dùng cho mai táng được thứ cát [tốt bậc vừa thôi]; hay ngày Thân của tháng Bảy thì duy nhất ngày Mậu Thân có Thiên Xá là “OK hảo hảo”, còn Giáp Thân, Nhâm Thân, “kẹt quá” thì dùng trong mai táng. Thế thôi. Ngày Hợi tháng 10 thì chỉ Ất Hợi, Kỷ Hợi mới được “tiểu tiểu vinh vi tắc khả”-việc nho nhỏ thì có thể; ngày Sửu của tháng Chạp thì chỉ có Ất Sửu, Quý Sửu mới là “thượng đẳng thần” các Sửu còn lại chỉ là … “chợ hoa trưa 30 Tết”. Vì thế, nếu theo họ Đổng thì Kiến chỉ như… kiến đen, “đen toàn diện”, cùng lắm là chỉ còn một chút “lõ đuôi”. May mắn, kiến chẳng phải là… chó. Vì nếu là chó, “lõ đầu thì nuôi, mà lõ đuôi thì…thịt”.
    [Xin cô bác cứ so sánh. Đó mới là Thí dụ về “Kiến cắn” trong “rừng Nho…”].

     E- Bởi thế cho nên chính là mà tại vì vậy, Lười tôi phải “siêng” để “lập lại trật tự” cho Trực theo nguyên tắc “lấy cũ nhưng không bỏ mới”, xếp Kiến trước hết là “vào” Hắc đạo và định việc “nên, không nên” trước hết là theo ý nghĩa trực tiếp của Trực và tham khảo trước hết với ý kiến của “thiên tài” họ Đổng.
    - KIẾN : Kiến là “dựng lên”, là “đặt để”. Khi âm là “Kiển” nó lại có nghĩa là “đổ ụp”, là “cái thế từ trên đè xuống rất dễ vậy” [Thiều Chửu]. Tháng có Địa chi là gì thì ngày có Địa chi đó sẽ mang Trực Kiến. Như tháng Ba thì ngày Thìn là Trực Kiến [Ngày Thìn này phải sau Tiết Thanh Minh, nghĩa là sau khi “Hoà Trực” đổi tiết khí để sang tháng].
    Ngày Kiến thường bất lợi đối với mọi việc [bách sự kỵ], đặc biệt là những đại sự, việc lớn, việc quan trọng. Những việc nhỏ, nếu bí bách quá cũng có thể “làm liều nhắm mắt đưa chân” được. Một vài việc nên, không nên đã ghi cụ thể ở trên.
    - TRỪ : Trừ bao giờ cũng đứng liền kề với Kiến, nên nếu không có lịch, chỉ cần biết ngày chọn thuộc tháng nào, Kiến gì thì lấy ngay ngày sau ngày Trực Kiến, đó là ngày Trực Trừ. Thí dụ như, tháng Tư kiến Tỵ. Sau Tỵ là Ngọ, nên Ngọ là Trực Trừ. Cứ theo cách này sẽ tính ra các Trực sau đó nữa, dựa vào trật tự không đổi của Trực.
    Trừ là “bỏ đi”, là “bỏ hết cái cũ mà thay bằng cái mới”. Trừ thuộc Hoàng đạo, mạnh nhất trong chức năng “lột xác”, “tẩy uế”, “thanh tẩy”, “tảo trừ ác sát, khứ cựu nghênh tân”. Vì thế, “hồi xưa”, người ta thường chọn ngày có Trực Trừ để làm nghi thức “Trừ phục”, xả tang.
    Một số việc khác, “được phép” làm: Cúng tế, bào chế thuốc, “chỉnh nhan sắc, chỉnh quân trang”, đi thăm dân, thăm hàng xóm, cúng tạ lễ, tắm rửa, quét rửa nhà cửa, xe cộ, đường sá, kiếm thầy thuốc, thuốc thang…
    Kỵ nhất là hôn nhân, đi xa, đào giếng, ký giao kèo hay hợp đồng, xuất vốn, vào nhà mới, khai trương, châm chích, hội hợp [Trừ ngày Đinh Tỵ, Kỷ Tỵ của tháng Ba; Giáp Ngọ, Nhâm Ngọ của tháng Tư; Giáp Thân của tháng Sáu; Canh Mậu Giáp Tuất của tháng Tám; Ất Hợi, Đinh Hợi của tháng Chín; Giáp Tý của tháng 10; các ngày Sửu của tháng 11 nếu theo Đổng công].
    - MÃN 滿 : Mãn Đầy đủ, đầy tràn, thừa”; là ngày “Thiên đế bảo khố tích mãn”, thuộc “dân sổ bìa đen”.
    Mãn thích hợp với mọi loại công việc mang tính giao ước, thoả thuận [trừ Hôn nhân. Tuy nhiên có sách cũng “gật đầu” luôn. Ở trên, ý kiến của ngài Lê có nói “Theo quan niệm của người Trung Hoa thì việc cưới xin cũng không nên chọn ngày có trực Mãn”. Phải chăng vì Mãn cũng có nghĩa là “Hết”, là “Tới đỉnh” rồi, không phát triển được nữa, như… “mãn kinh” chẳng hạn?]. Mãn cũng rất thích hợp để tế lễ, cầu nguyện, trả lễ, chi xài, may áo, dệt vải, dời đồ, dời bếp, lên kèo cột…
    Kỵ: Sáu lễ trong hôn nhân, việc tang, thăm dân, thăm thân, lên quan, tìm thầy tìm thuốc, nhận chức mới.
    - BÌNH: Bình là “bằng, làm cho bằng, bình thường, loàng xoàng”, vì vậy sách xưa và Thông thư xếp “y” thuộc vào… châu Phi lục địa Đen [Quan điểm này ngược 180 độ với quan điểm của ngài Lê ở trên].
   Bình, theo Đổng công, hầu hết cũng chỉ dùng được trong việc… đóng quan tài, chỉ có vài ngoại lệ dùng được trong đại sự: tháng Sáu ngày Giáp Tuất; tháng Tám ngày Canh Bính Mậu Tý; tháng 10 ngày Giáp Nhâm Canh Dần; tháng 11 ngày Ất Mão; tháng Chạp ngày Nhâm Canh Thìn.
    Bình, bình thường chỉ nên làm các việc có tính… san lấp, làm đường đi, lấp ổ gà ổ voi, ổ khủng long, lấp hố, lấp giếng cũ, tô tường cho láng mịn, trò chuyện, may áo, dời đồ đạc, làm chuồng trại, dời bếp núc…
    - ĐỊNH : Định là “xếp đặt được yên ổn, không bị lay động nữa, toan tính”, thuộc Hoàng đạo.
    Nghi: giá thú, khai thị, khởi tạo, cầu phúc, nhập học, nhậm chức, sửa sang, làm đường, làm nhà, tế tự, động thổ, mua trâu ngựa, hội họp, thương lượng.
    Kỵ: giao thiệp, kiện tụng, xuất hành, mổ xẻ, phẫu thuật, phân công người chỉ huy một công việc nào đó.
    Tuy Định thuộc “màu vàng” song cũng có những khoản chỉ là… vàng xi mạ. Theo Đổng công, tháng Ba, nếu là ngày Mậu Canh Thân; tháng Tư ngày Dậu; tháng Năm ngày Bính Nhâm Tuất; tháng Sáu ngày Quý Hợi; tháng Bảy ngày Giáp Tý; tháng 8 ngày Sửu; tháng 9 ngày Giáp Nhâm Dần; tháng 11 ngày Thìn [trừ Nhâm Thìn]; tháng Chạp ngày Tỵ [trừ Quý Tỵ], tuy cũng là Trực Định nhưng “xấu hoắc”.
     - CHẤP : Chấp là nắm giữ, là bắt, là không biết biến thông, là… ù lỳ.
    Nên tu tạo, sửa chữa, làm nhà, trồng trọt, săn bắn, đào giếng, gửi tiền vào bank, trữ hạt giống, hôn nhân, nhận người.
    Không nên làm các việc như chuyển nhà, đi chơi, mở cửa hàng buôn bán, chi xuất tiền của, dời đồ, xuất kho, khai trương.
    Đổng công không mấy “thiện cảm” với Trực Chấp trong tháng Giêng ngày Mùi; tháng Hai ngày Canh Thân; tháng Ba ngày Kỷ Tân Dậu; tháng Tư ngày Tuất [Chỉ miễn cưỡng cho dùng ngày Giáp Tuất trong việc nhỏ]; tháng Năm cũng chỉ “miễn giảm” cho Ất Hợi; tháng Sáu thì “công nhận” cho Bính Canh Mậu Tý; tháng Bảy “xoá sổ” toàn bộ ngày Sửu do phạm “Đằng Xà, Chu Tước, Câu Giảo, Bạch Hổ chi sát”; tháng Tám loại ngày Giáp Dần [Chính Tứ Phế]; tháng Chín bỏ ngày Chấp Ất Mão; tháng 10 chỉ dùng ngày Giáp Thìn; 11 chỉ bỏ ngày Đinh Tỵ; tháng Chạp cũng chỉ loại ngày Chấp Bính Ngọ.
    - PHÁ : Mọi việc đều bất lợi. Duy chỉ có những việc mang tính “phá” như việc tháo dỡ nhà cửa, cầu y chữa bệnh là tiến hành được.
    Đổng công cũng “biểu quyết nhất trí” bằng cả hai tay rằng đây là ngày “đen như mõm chó”. Chỉ “vớt vát” có Nhâm Dần tháng Bảy dùng được cho an táng; Ất Sửu tháng 10 dành cho các việc “nhỏ như con thỏ”; Phá, Quý Mùi tháng Chạp là ngày duy nhất được phán: bách sự cát.
    - NGUY : Nguy là “nguy hiểm, cao ngất ngưỡng”. Đây là Trực gây nhiều “thị phi” do “nội bộ mất đoàn kết”, “nguy cơ tự chuyển biến”. Nguy đứng “chàng hảng” giữa hai phe hắc bạch giang hồ, một số thì cho Nguy là “chư sự bất cát”. Nếu leo núi, cưỡi trâu cưỡi ngựa, đi tàu thuyền, hôn nhân, chài lưới bắt cá, làm mồ mả, chặt đốn cây lại càng hung. Song nhiều Thông thư mới lại “đánh dấu” Nguy vào hàng “quân tử” chứ chẳng phải “tiểu nhân”. Nguy cũng có thể chọn cho các việc kê sàng giường, chọn cấp chỉ huy, huấn luyện quan quân, tế tự cầu phúc, phá thổ…
    Đổng công lại “bâng khuâng đứng giữa hai làn nước” của Trực Nguy, nên có lúc thì “cuốn theo chiều gió”, lúc thì “nòng ta vẫn vững như kiềng ba chân”, rằng thì là mà: tháng Giêng chẳng xài, duy chỉ Đinh Dậu có thể an táng, trả lễ, xuất hành, khai trương, khai công, đi “nhờ vả”; tháng Hai “cấm tiệt”; tháng Ba lại ca ngợi gần maximum, chỉ gạt Tân Quý Hợi ra rìa; tháng Tư gạt tiếp Giáp Nhâm Tý; tháng Năm Nguy “trắng tay”; tháng Sáu Nguy nào cũng tốt tốt; tháng Bảy cũng vậy, chỉ trừ Ất Mão; tháng Tám phải bỏ Canh Giáp Thìn; tháng Chín, mọi Tỵ khả dụng; tháng 10 Bính Ngọ bị đuổi; 11 thì Tân Quý Ất Mùi chớ nên “làm quen”; tháng Chạp thì Canh Giáp Bính Nhâm có thể dùng cho việc nhỏ, mai táng, để tang.
     - THÀNH : Thành  là thành công, Thiên đế k vạn vật thành tựu. Hầu hết “nhân tài” tuyển trạch đều “trước sau như một” xếp Trực thành vào diện “ưu tiên cho đi du học”.
    Nên khai trương kinh doanh, nhập học, kết hôn, nhậm chức, nhập trạch vào nhà mới, vỗ về dân ven đô, biên giới, chăn nuôi, cầu tài, thoả thuận, trồng trọt, dựng cột, lên kèo.
    Không nên kiện tụng, tranh chấp.
    Đối với Đổng công thì Trực Thành cũng như ngọc có vết, nghĩa là có lúc cũng chớ nên dùng: ngày Tuất tháng Giêng; ngày Nhâm Tý tháng Ba chỉ dùng cho việc nhỏ; không dùng ngày Sửu tháng Tư; không dùng Mậu Giáp Thìn tháng Bảy và Nhâm Canh Bính Thìn chỉ dùng an táng; không dùng Ất Mùi tháng 10; Canh Bính Thân tháng 11 chỉ dùng cho việc nhỏ.
    - THÂU [THU] : Thâu là thu nhặt, gom về, bắt giữ, là thích hợp với những việc có tính chất “thu vào” như dựng kho tàng, cất giữ của cải, săn bắn, thu hoạch hoa màu, ngũ cốc, nhập học, trồng tỉa, mua bán, làm nhà, hoãn…thi hành án, giải oan, bố thí, nạp súc, thu tiền [Ngài Lê còn cho vào nhà mới]
    Không nên tiến hành các công việc mới như khai trương, đi du lịch, châm chích, an dân, lập khoán, tuyên bố chính sự, tuyển dụng. Kỵ an táng, cầu thầy kiếm thuốc, động thổ [vì trùng Địa Phá].
    Kết hôn thì nơi bảo OK, nơi bảo NO.
    Đổng công chỉ dùng ngày Tân Hợi của tháng Giêng, thứ cát; ngày Thìn tháng Sáu [trừ Canh Thìn]; Nhâm Canh Ngọ tháng Tám tiểu cát; Kỷ Mùi tháng Chín an táng; Giáp Thân tháng 10; Dậu tháng 11 chỉ an táng.
    - KHAI  : Khai lợi cho việc mang tính “mở”, như kết hôn, bắt đầu (khai trương) kinh doanh hay khởi công, khánh thành, ban chiếu chỉ, dựng cột lên kèo, cầu hiền, cầu y, trả lễ, dời đồ, an sàng giường, lập nghiệp, hoãn hình ngục, làm ân huệ, dâng biểu chương, lên công đường.
    Không nên làm các công việc như đào đất, chôn cất người mất, săn bắn, đẵn gỗ, và những công việc không sạch sẽ.
    Đổng công không chọn Khai ngày Tý tháng Giêng [trừ Mậu Bính Canh Tý, người Mạng Thuỷ Thổ dùng tốt]; không dùng Khai ngày Sửu tháng Hai; tháng Ba chỉ dùng Mậu Dần có Thiên Xá, còn Nhâm Dần chỉ nên mai táng, làm áo quan, các ngày Dần khác không dùng; Khai ngày Mão tháng Tư đúng là Khai; tháng Năm ngày Thìn cũng vậy [trừ Mậu Giáp Thìn]; tháng Sáu ngày Tỵ xài được Ất Quý Tỵ; tháng Bảy loại ngày Canh Ngọ; tháng Tám chỉ dụng Đinh Kỷ Tân Quý Mùi cho tiểu sự; tháng Chín bỏ Khai ngày Canh Thân; tháng 10 chỉ cẩn thận ngày Kỷ Dậu Cửu Thổ Quỷ [chỉ an táng]; tháng 11 ngày Tuất chỉ Giáp Tuất là “cặp đôi hoàn hảo”, các “chó” khác chỉ nên dùng cho việc nhỏ, việc gấp; tháng Chạp chỉ dụng Ất Kỷ Đinh Hợi.
    - BẾ : Bế là đóng, là bít, là ngưng trệ, vùi lấp, là ngày thiên địa âm dương “kín cổng cao tường” vậy nên chỉ thích hợp những công việc mang tính chất của “Bế” của “đóng lại”, như đắp đập, ngăn nước, xây vá những chỗ sụt lở đê, đập, tường vách, an táng, lấp ao hồ giếng, dựng cửa, ráp cửa, gắn cửa       
     Không nên làm những việc mang tính “mở ra”, “xuất ra”, mới mẻ [khai trương, kết hôn, khởi công, khơi thông dòng chảy…].

    F- Trực, “hồi nẫm” còn dùng để đoán cho nhân mạng, để tính số đòn tay cho mái nhà.
    - Cách tìm Trực chủ:
    + Trực “ăn rơ” với Nạp âm Mạng. Cần nhớ câu này: “Trâu [Sửu] Vàng, Chó [Tuất] Lửa, Dê [Mùi] Gỗ, Rồng [Thìn] Đất Nước”. Trong đó, “vàng, lửa, gỗ, đất, nước” là ngũ hành Kim Hoả Mộc Thổ Thuỷ của Nạp âm Mạng; “trâu, chó, dê, rồng”  
là chỗ khởi KIẾN để “bu” đến Địa chi tuổi.
    Thí dụ như cần tìm Trực cho tuổi Đinh Mão 1987.
    Đinh Mão 1987, Nạp âm Mạng Lô trung Hoả, Lửa lò Bát quái. Dùng “chó lửa”, khởi KIẾN ở Tuất, Trừ ở Hợi, Mãn ở Tý, Bình ở Sửu, Định ở Dần, CHẤP ở Mão. Vậy người Đinh Mão mang Trực Chấp hoả.

    - Bản Nhân mạng:
Kiến
Trừ
Mãn
Bình
Định
Chấp
Phá
Nguy
Thành
Thu
Khai
Bế
Thuộc Thổ
Thổ
Khô
khan,
gian
 nan,
tự lập.

Thuỷ.
Thật
thà,
khó
nhờ
Thân
tộc. Nữ
khó
nuôi
con.
Ít bạn.

Thổ.
Khôn
ngoan,
thông
minh,
con dễ
nuôi,
bạn tốt,
nhiều
phúc.
Thuỷ.
Thông
minh,
kínđáo
khéo
ngoại
giao.
Được
vinh
hiển,
được
người
trọng.
Mộc.
Nết na
Được
lộc từ
giatộc
Thanh
liêm,
nhântừ
ônhoà.
Hôn
nhân
tựchọn
Hoả.
Tính
nóng
nghiêm
nghị
nhưng
rộng
rãi.
Nữ
khó
tánh
hơn
nam.
Hoả.
Lao
đao, lo
âu,tha
phương
lớn
tuổi
mới
yên.
Thuỷ.
Nhiều
lo nghĩ
xuôi
ngược
tảo tần
Nữ tốt
hơn
nam.
Có cơ
mưu.
Kim.
Yên vui
annhàn
giàu có
lịchthiệp
Nữ thì
vui buồn
thất
thường.
Thuỷ.
Long
đong
vất vả
ngược
xuôi.
Có tiền
song
nhọc
trí,
thức
nhiều
ngủ ít.
Kim.
Số
phiêu
lưu.
Nam
vui vẻ
thanh
nhàn.
Nữ
thường
khắc
phu.
Kim.
Thông
minh,
lợi
thi cử.
danh
phận.

  - Số đòn tay được tính cho một mái nhà, có hiệp Trực. Xưa lấy đòn dông [không phải đòn xóc] làm trạch chủ, đòn tay là vợ con,gia sản…
    Chọn số đòn tay theo lý Tương sinh của Ngũ hành chứ không phải chỉ lựa Trực Hoàng.
Trực
Chủ
Kiến
Trừ
Mãn
Bình
Định
Chấp
Phá
Nguy
Thành
Thu
Khai
Bế
Kiến
12

14


5
6

8

10
11
Trừ

12

14
3


6
7
8
9
10
Mãn
10

12


3
4

6

8
9
Bình

10

12
13


4
5
6
7
8
Định

9

11
12
13
14
3

5


Chấp
7

9

11
12
13





Phá
6

8

10
11
12





Nguy

6

8
9


12
13
14
3
4
Thành
4
5
6
7



11
12
13
14
3
Thu

4

6
7


10
11
12
13
14
Khai
14
3
4
5



9
10
11
12
13
Bế
13
14
3
4



8
9
10
11
12
+ Chọn số 6, 8, 10, 11, 12 cát. Nếu đóng nhiều hơn thì + 12.

G- Trong kỳ môn còn dùng 12 Chỉ Trực gia vào giờ để tìm Địa T Hộ như sau [Phần này Lão Lười “chôm” được trên Internet, không rõ tác giả]:
    Địa t hộ dùng 12 Trực theo Nguyệt Kiến mà bày trên 12 Địa chi địa bàn, như tháng giêng là Kiến Dần, thì khởi Kiến Dần tại giờ dùng, sau đó thuận hành mà an các trực tiếp theo. 12 trực là Kiến, Trừ, Mãn, Bình, Định, Chấp, Phá, Nguy, Thành, Thu, Khai, Bế. Thí dụ như ta có tháng giêng Kiến Dần, giờ Ngọ, vậy ta khởi Dần và Kiến tại Ngọ, Trừ tại Mùi, Mãn tại Thân, Bình tại Dậu, Định tại Tuất, Chấp tại Hợi, Phá tại Tý, Nguy tại Sửu, Thành tại Dần, Khai tại Mão, và Bế tại Thìn.
   
Địa Tứ Hộ ở trực Trừ, Định, Nguy, và Khai, cho nên phương Thìn [Mão chứ], Tuất, Sửu, và Mùi là phương Địa Tứ Hộ vậy. Khi gặp nạn, lánh ở phương Địa Hộ thì tránh được nguy.

Đến đây là “chấm dứt chương trình của ban Tùng Lâm”. Chúc cô bác Năm Mới Sức khoẻ, Vui vẻ, Tươi trẻ, không bao giờ bị… ghẻ, vì gió Xuân mát mẻ.

   



       

    

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2015

Năm Ất Mùi 2015
    - Do năm trước (Giáp Ngọ 2014) nhuận tháng 9 âm lịch nên tiết Lập xuân [bắt đầu của năm Ất Mùi] nằm trong tháng Chạp của năm Giáp Ngọ, ngày 16 (Dương lịch: Thứ tư, 04-02-2015), từ 11:00. Vì vậy, nếu trẻ sơ sinh sinh sau thời điểm này sẽ là tuổi Ất Mùi chứ không phải tuổi Giáp Ngọ.
    - Thái tuế tại cung Mùi, tên huý là 楊 賢 Dương Hiền, Tuế phá ở Sửu, Tuế hại ở Tý, Tuế hình ở Tuất; Tuế đức tại Canh [Tây], Tuế đức hợp ở Ất [Đông]. Thiên can Ất thuộc Mộc, Địa chi Mùi thuộc Thổ; Ất Mùi mạng nạp âm Sa trung Kim [Vàng trong cát], Âm kim; sao Bích thuỷ du trực năm, Tất nguyệt ô quản cục.

4Tốn           VII   Đông nam        

                      2
9Ly                III           Nam

7
2Khôn           V      Tây nam

9
3Chấn           VI          Đông

1
Trung         VIII           ương

3
7Đoài             I             Tây

5
8Cấn              II     Đông bắc

6
1Khảm          IV             Bắc

8
6Càn              IX      Tây bắc

4
       
    * Ất Mùi 2015 do Tam bích Chấn mộc quản cung, bất lợi ở phương hướng Tây [Đoài] do Ngũ hoàng sát (Tữ Phù), và Toạ sát, Tai sát; Nhà ở phương này nên sơn cửa màu trắng hoặc đặt một con cóc hay chiếc độc bình bằng đồng, hoặc treo một chuỗi 6 tiền đồng xưa. Giường ngủ chỗ này sẽ dễ bị bệnh ở hạ bộ.
    *Phương hướng Nam [Ly] là Thất xích Phá Quân) cũng bất lợi; Tam bích gặp Thất xích, cửa nẻo phải cẩn thận, đề phòng trộm cướp, quan tai. Nếu phương vị này có Phòng nhân viên thì sẽ có sự phản phúc, “ăn cháo đá bát”. Nên đặt một tấm chùi chân màu cà phê, màu cánh gián.  
    *Bắc [Khảm] là Tài Vận, Bát bạch, song Mậu Đô thiên ở Tý [Chính bắc], nên nếu làm nhà trong năm này thì đây là chỗ chưa được mở cửa hoặc đường đi ở Chính bắc; Nếu bổ sung chuông gió có 9 thanh, màu đỏ, hồng, cánh sen hoặc màu sơn dùng đỏ, hồng, cánh sen.
    *Lục bạch Vũ Khúc ở Đông bắc [Cấn]; Tốt. Nên đặt một tấm chùi chân màu cà phê, màu cánh gián, màu đen.
    *Nhị hắc Bệnh Phù tới Đông nam [Tốn]; dễ có bệnh nhỏ. Nên dùng tấm chùi chân màu xanh lá, màu lam, phía dưới có bày 6 đồng tiền xưa. Phương vị này nên cẩn thận điện đóm, củi lửa.
    *Nhất bạch Đào Hoa tới Đông [Chấn] Kỷ Đô thiên, nên nếu làm nhà trong năm này thì đây là chỗ chưa được mở cửa hoặc đường đi ở Chính đông;
   *Tứ lục Văn Xương tới Tây bắc [Càn], tốt. Cần đặt một bình nước trong.
   *Cửu tử Hỷ Khánh tới Tây nam [Khôn], Nên dùng tấm chùi chân màu xanh lá, màu lam đặt ở mé tây của phương hướng. Nếu có bàn học ở đây thì nên di dời.

       Xuất hành   
    - Mồng Một Tết là ngày Bính Dần, ngũ hành thuộc Hoả, sao Giác [o], trực Kiến, có Nguyệt đức [oo], Tứ tương [o], Vương nhật [o], Yếu an [o], Nguyệt ân [oo], Bất tương [oo]. Thần Tài, Thần Quý [oo] ở Chính Tây, Cửa Sinh [o] ở Đông bắc, Cửa Khai [o] ở Tây bắc; Nên nghinh dâng hương hoặc xuất hành.
    - Chọn giờ Tý [11: 15-12:45] Phúc tinh Quý nhân, Thiên quan Quý nhân thượng cát, hoặc Dần [03:15-04:45], Mão [05:15-06:45], Ngọ [11:15-12:45]. Chú ý: Không chọn giờ XUNG với tuổi. Như tuổi Thân thì không chọn giờ Dần; tuổi Tý thì chớ "rớ" giờ Ngọ...

    Thái Tuế bài
   - Phạm Thái Tuế có 2 ngôi "đáng sợ" nhất là "Đồng Thái Tuế"- tuổi giống y chang Địa chi của Năm; và "Phá Thái Tuế"- tuổi xung với Địa chi của Năm. Khi phạm Thái Tuế, người ta thường thỉnh Bài vị Thái Tuế về thờ cúng trong năm [Xin xem bài Thái Tuế], hy vọng "hoá hung thành cát".
    Như năm Ất Mùi 2015, Thái Tuế là "Mùi" thì tuổi Mùi là "Đồng Thái Tuế", tuổi Sửu là "Phá Thái Tuế". Sau này, "thiên hạ" còn "cẩn thận" đưa thêm vào "Danh sách Đen" nên cúng Thái Tuế, thêm các tuổi Tam hợp với Địa chi của Năm [Như năm Ất Mùi thì có thêm tuổi Hợi, Mão]; tuổi Hình, Hại với Thái Tuế [Như năm Ất Mùi thì có thêm tuổi Tý (Hại), Tuất (Hình) ].
    Thái Tuế bài của năm Ất Mùi: [Không piết cách đưa ảnh vào!]


Thứ Năm, 14 tháng 8, 2014

Tử Vi Du Hý 1

Tử Vi Du Hý
1. LỜI THƯA “PHÒNG VỆ”
- Một đêm, bước chân bỗng dưng…không về gác trọ. Một đêm bỗng dưng…tới thăm hoa Tường Vy [Chỗ này phải xin lỗi Hương linh nhạc sỹ họ Trịnh]. Rồi cũng bỗng dưng vì say nên… đi lạc mà nghĩ lan man từ Tường Vy tới…Tử Vi [Cả hai đều là…bông mà]. Dù “Tường” với “Tử” cộng chung “Vy/Vi” này vốn… “vô thường” với nhau.
- “Bỗng dưng” “ngộ” ra: Ừ thì tất cả Vô Thường. Mà đã là vô thường thì chỉ có… vô thường mới là… chân lý ; còn tất cả những gì thuộc về vô thường, đương nhiên phải “out of law” đứng ngoài vòng pháp luật- “Hổ phụ sanh Khuyển tử” Cha cọp sanh con chó đó mà...
- Vậy thì… À, thế nên mới có người nói rằng “Tử Vi mà có sai lầm, Thì đem Tam Thế Diễn Cầm ra tra”(Tử vi gia Thiên Phúc).
- Nghĩa là: Tử Vi cũng có lúc sai lầm.
- “Bỗng dưng” nghĩ tới những chỗ sai lầm của Tử Vi nhưng do không phải là “sai lầm tự thân” của Tử Vi, mà là do Thiên hạ “gắp lửa bỏ tay người”, dẫn đến… chết người [Ở đây là chết Tử Vi, chẳng có ai là người chết cả. Trừ phi người nhận phán đoán Tử Vi sai lạc đó chết vì “cả tin”-Bởi tin nên mắc, bởi nghe nên lầm].
- Ở cái khoản “gắp lửa” đó, có nhiếu dạng thức “diễn biến hoà bình” lắm: vớ nhằm sách giả [Giả. Không phải Lậu], “tam sao thất bổn”, “đọc sách xưa, chú giải sách xưa mà quên là đang xem… xương cốt [tao phách] của cổ nhân” chứ dó không phải là tinh thần của họ, quên “học tập” Duy vật Lịch sử, chữ “tác” đánh chữ “tộ”, chữ “tộ” “ngộ” ra chữ “tác”…
- Khổ nổi, Tử Vi không có…miệng, nên biết làm sao để… “biện chính tự thân”? Chỉ còn cách: thơm cũng gật, thúi cũng gật, thừa tướng cũng gật, chốt đã sang sông [Tốt đã quá giang trong Cờ Tướng] cũng gật. Bởi, làm gì có khả năng… thay đổi cơ chế “phòng vệ”.
- Tui chẳng qua là một thằng lượm ve chai, “bỗng dưng” liều mạng, muốn làm Anh Hùng như Donquihote, như AQ “cách mẹ cái mệnh”, muốn đứng ra làm… luật sư “bào chữa miễn phí” cho Tử Vi. Chỉ là mà tại bởi vì thì, tui muốn cố gắng “cái gì của Tử Vi thì trả lại cho Tử Vi”.
- Hoàn toàn có thể, tui “không muốn làm thằng gắp lửa”, lại sẽ chính là “thằng đốt đền”. Chuyện này càng dễ… thành hiện thực khi tui không chịu “sơn cờ” khoanh vùng ở mỗi chuyện Tử Vi mà “loanh quanh đâu đó”.
- Vì vậy, tui đã sẵn sàng, mang mặt nạ heo, ủng 8 tấc- mua ở chợ Dân Sinh- lội xuống kinh Ba Bò, khum xuống rửa tai, để nghe những lời chân tình chửi rủa của các bạn yêu ghét xa gần. Chỉ mong đừng bị “ném đá”. Vì bị “ném đá” thì đau lắm; Hành vi “ném đá” người khác bị xem là hành vi của “khủng bố”; và dù sao thì chết vì thúi tai do nước kinh Ba Bò vẫn là “cái chết cao thượng” hơn…
   Hơn nữa, sẽ có những bài không phải do tui viết mà chỉ là do tui đi “lượm”. Nếu có “ném đá” tui thì đừng “quên” ném “họ” và cả thằng nào “tương” bài lên nhé!
Nay Kính,

Phong Vân.

Chủ Nhật, 30 tháng 3, 2014

Ăn Giỗ

Cúng giỗ và mừng ngày sinh?
Theo tập quán lâu đời, dân ta lấy ngày giỗ (ngày mất) làm trọng, cho nên ngày đó, ngoài việc thăm phần mộ, tuỳ gia cảnh và tuỳ vị trí người đă khuất mà cúng giỗ. Đây cũng là dịp thăm người thân trong gia đ́nh, trong chi họ, ḍng họ, họp mặt để tưởng nhớ người đă khuất và bàn việc người sống giữ ǵn gia phong. Vào dịp đó người ta thường tổ chức ăn uống, nên mới gọi là ăn giỗ, th́ cũng gọi là "trước cúng sau ăn", có mất đi đâu, cũng là để cho cuộc họp mặt thêm đậm đà ấm cúng, kéo dài thời gian sinh hoạt, kể chuyện tâm t́nh, chuyện làm ăn. Mà việc chi phí cũng không dồn lên đầu một ai v́ ngoài phần do hương hoả mà có, mỗi người đều đóng góp bằng tiền mặt hoặc hiện vật, nên mới có từ "góp giỗ", với ư nghĩa trên- "Uống nước nhớ nguồn"- việc đó có thể xếp vào loại thuần phong mỹ tục, nếu như người ta loại bỏ được những hủ tục có tính chất mê tín dị đoan, nếu như không bị lợi dụng một cơ hội cho bọn hănh tiến khoe của bằng mâm cao cỗ đầy, sơn hào hải vị, cho những ông tham nhũng dựa vào chức quyền nhận lễ giỗ hậu hĩ, một thứ đút lót trá h́nh.

Chính v́ thể theo phong tục đó mà nhà nước ta đă giữ ǵn việc tổ chức trang nghiêm ngày giỗ của các vị anh hùng dân tộc có công dựng nước và giữ nước như ngày giỗ tổ Hùng Vương, hội đền Kiếp Bạc... Cho nên, theo tôi, giữ ǵn tục lệ đó theo ư nghĩa trong sáng của nó không có ǵ phải bàn.
Thế c̣n ngày sinh?
Phương tây có tập quán mừng ngày sinh là chính.
Tôn giáo Đông Tây cũng coi trọng ngày sinh, Phật giáo có ngày "Bụt sinh Bụt đẻ" (Phật Đản 8-4 Âm Lịch), Ki tô giáo có ngày Chúa giáng sinh (Nô- en 25-12 Dương lịch). Do giao lưu văn hóa, giao tiếp quốc tế, Nhà nước ta đă tiếp nhận tập quán quốc tế đó nên đă tổ chức trọng thể ngày sinh Bác Hồ, Mừng thọ các nhà lănh đạo khác của Đảng và Nhà nước.
Từ khi ra đời, các hội thọ hàng năm thường tổ chức mừng thọ cho các cụ vào những năm chẵn 70, 75, 80... Một số đoàn thể cũng tổ chức mừng thọ cho hội viên của ḿnh. Việc tổ chức mừng thọ có tính chất đại trà, không đúng ngày đó không thể thay thế cho việc mừng thọ đúng ngày sinh, ấm cúng trong gia đ́nh. Cho nên, tôi nghĩ rằng các gia đ́nh chúng ta nên tổ chức mừng ngày sinh cho mọi thành viên trong gia đ́nh, đặc biệt lưu ư đến ông bà già là những người đang cảm thấy cô đơn. Hiện ngay rất nhiều gia đ́nh đă tổ chức mừng ngày sinh con, thường là hai cháu, nay thêm hai vợ chồng, một năm bốn lần mừng ngày sinh, dư dật th́ có mâm cơm thịnh soạn, tặng phẩm tươm tất, thiếu thốn th́ bữa cơm tươi hơn thường ngày, quà tặng giản đơn. Người c̣n cha mẹ nếu ở chung th́ thêm hai lần ăn mừng ngày sinh, cũng tùng tiệm như trên. Nếu ở riêng th́ đồng quà tấm bánh vừa với túi tiền tặng cha mẹ, cốt thể hiện tấm ḷng ưu ái, tăng thêm sự ấm cúng trong gia đ́nh, giúp tuổi già đỡ cảm thấy cô đơn. Mừng ngày sinh một cách giản dị như vậy thiết tưởng cũng không phải cái ǵ cao xa ngoài tầm tay của những gia đ́nh c̣n thiếu thốn. Cũng cần thêm một lư do nữa khiến ta coi trọng ngày sinh là bản thân người đó được hưởng khi c̣n sống, dù là một món ăn tươi c̣n hơn mâm cao cỗ đầy cúng vái khi sang thế giới bên kia. ở chỗ này có thể nhắc đến một lời chê bai của người xưa:
Khi sống thì chẳng cho ăn
Đến khi chết xuống làm văn tế ruồi
(Đặng Văn Phủng - Trích "Hà nội mới chủ nhật ", số 119)
Lời bàn thêm của tác giả:
Chúng tôi trích dẫn bài trên của ông Đặng Văn Phủng và có lời bàn thêm sau đây:
Lễ giỗ được xếp vào loại thuần phong mỹ tục của dân tộc ta. Mừng ngày sinh là phong tục Âu Tây có ư nghĩa hay. Theo phân tích của ông Phủng th́ kỷ niệm ngày sinh hay hơn là giỗ. Ngặt v́ mấy ai nhớ đến ngày sinh của bản thân ḿnh. Trước năm 1945 cũng chưa dễ mấy ai biết chính xác, trừ một số ít con công chức cũ ăn lương phải có giấy khai sinh chính thức hoặc ai c̣n may mắn giữ được lá số tử vi, ngược lại hầu hết các gia đ́nh c̣n ghi nhớ ngày giỗ của cha mẹ, ông bà. cụ kỵ. Dầu cho khi cha mẹ c̣n sống, con cháu đă được tổ chức kỷ niệm ngày sinh, nhưng nhớ đến ngày ông bà cha mẹ qua đời, mà trên bàn thờ hương tàn khói lạnh cũng cảm thấy áy náy trong ḷng.
V́ vậy ở nước ta, nhà nào tổ chức kỷ niệm ngày sinh càng hay, nhưng chưa có nhà nào bỏ được lễ giỗ.
Lễ cúng giỗ vào ngày nào?
Lễ cúng giỗ vào đúng ngày mất hay trước ngày mất một ngày? Có người cho rằng phải cúng vào ngày đang c̣n sống (tức là trước ngày mất), có người lại cho rằng "trẻ dôi ra, già rút lại", vậy nên chết trẻ th́ cúng giỗ đúng ngày chết, c̣n người già th́ cúng trước một ngày. Vậy có câu hỏi: "Người trung niên chết th́ cúng vào ngày nào"?
Ngày giỗ theo âm Hán là huư nhật hay kỵ nhật, tức là lễ kỷ niệm ngày mất của tổ tiên, ông bà, cha mẹ, cũng có nghĩa là ngày kiêng kỵ.
Nguyên ngày trước, "Lễ Giỗ" gọi là "Lễ chính kỵ": chiều hôm trước lễ chính kỵ có "Lễ tiên thường" (Nghĩa là nếm trước), con cháu sắm sanh một ít lễ vật, dâng lên mời gia tiên nếm trước. Ngày xưa, những nhà phú hữu mời thông gia, bà con làng xóm đến mời ăn giỗ cả hai lễ tiên thường và chính kỵ. Dần dần v́ khách đông phải chia ra hai lượt; lại có những nhà hàng xóm mời cả hai vợ chồng nên luân phiên nhau, người đi lễ tiên thường, người đi lễ chính kỵ, ở nông thôn tuỳ theo thời vụ, muốn "Vừa được buổi cày vừa hay bữa giỗ", buổi chiều đi làm đồng về, sang hàng xóm ăn giỗ tiện hơn nên có nơi lễ tiên thường đông hơn là lễ chính kỵ. Dần dần hoặc v́ bận việc hoặc v́ kinh tế eo hẹp hoặc v́ thiếu người phục dịch, người ta giản lược đi, chỉ mời khách một lần nhưng hương hoa, trầu rượu vẫn cúng cả hai lễ. Một vài nhà làm, những người khác thấy thuận tiện bắt chước, dần dần trở thành tục của địa phương. Việc cúng ngày sống (tức lễ tiên thường vào chiều hôm trước, nguyên xưa chỉ cúng vào buổi chiều v́ buổi sáng c̣n phải mua sắm nấu nướng và ra khấn ở mộ yết cáo với thổ thần, long mạch xin phép cho gia tiên về nhà dự lễ giỗ). Cúng ngày sống hay cúng ngày chết, hay nói cách khác lễ tiên thường hay lễ chính kỵ, lễ nào là lễ quan trọng hơn, chẳng qua đó là cách biện hộ cho phong tục từng nơi.
Kết luận: Nếu vận dụng đúng phong tục cổ truyền phổ biến trong cả nước th́ trước ngày chết (lễ tiên thường) phải cúng chiều, cúng đúng ngày chết (lễ chính kỵ) phải cúng buổi sáng kể cả chiều hôm đó mới chết.
                                                                                                                Sưu tầm.


Hiếu ơi?

Đạo hiếu là gì?
Hiếu theo quan niệm thời xưa khác thời nay như thế nào?
Các bạn biết chữ Hán thấy rõ: Chữ "Hiếu" là chữ viết tắt của hai chữ "Lão" ở trên (lượt bớt phần dưới) và chữ "Tử" ở dưới. "Hiếu" tức là mối quan hệ cha trên, con dưới; suy rộng ra là đạo nghĩa của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên.
Đọc bài "Đạo hiếu" của Nhất Thanh (Tr.331 cuốn "Đất lề quê thói"- NXB Đồng Tháp) cùng với một số bài nói về lễ Mừng lão,Yến lão, tôi rất nhất trí và không lặp lại, chỉ xin nói thêm vài lời.
Đạo hiếu xuyên suốt trong mọi phong tục của  nhân dân ta, không thể không nói đến chữ hiếu khi viết về phong tục cổ truyền của ta. Lễ tế, lễ tang, lễ cưới, kể cả sinh đẻ, xây nhà dựng cửa, hội hè đình đám, việc nước, việc làng, thuần phong mỹ tục đã đành  mà trong số những phong tục đã lỗi thời, ngày nay bị xếp vào loại đồi  phong bại tục, ta cũng chắt lọc được một phần tinh hoa của đạo hiếu.
"Hiếu" là thiên kinh địa  nghĩa, là gốc của mọi đức tính. Ca dao tục ngữ đã nói nhiều, ngay trong bài học vỡ lòng, trong "Luân lý giáo khoa thư" các em đã hiểu: "Công cha như núi Thái  Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra"... Những chân lý đó, ai không chấp nhận, song quan niệm về chữ "Hiếu" ngày nay cũng có phần khác thời xưa.
Tôi không dám lên mặt dạy đời, chỉ xin thuật lại một buổi tranh luận trong nội bộ gia đình tôi:
Trước hết tôi hỏi" "Hiếu" là gì? Cháu nhanh nhảu trả lời: "Hiếu" là  hiếu với dân, Bác Hồ khuyên" "Trung với nước, hiếu với dân". Đài báo cũng nhắc luôn: " Hiếu với dân, tức là cán bộ phải chăm lo cho dân, đừng ăn hôi lộ, đừng hách dịch với dân".
- "Việc hiếu" là gì?
- "Việc hiếu " là việc ... là việc... là việc cán bộ chăm lo cho nhân dân mà không ăn của đút, không... Đến đây cháu lúng túng. Thằng con út tôi trả lời thay:
- "Việc hiếu" là việc đưa đám  ma, vì hôm trước, đưa đám ma xong, ông hàng xóm đứng lên cảm ơn thân bằng  cố hữu đã giúp gia đình lo xong việc hiếu....
Đến đây, được chú em tôi phụ hoạ thêm:
- Cháu nói có lý đấy anh ạ! "Việc hiếu" là việc đối với người chết, cho  nên người ta thường nói "Hiếu", "Hỷ", tức là chỉ việc tang, việc cưới. Nhưng cháu ạ, việc hiếu phải ba năm chứ không phải đưa ma xong là xong đâu ! Đến  như tiến sĩ Lý Trần Quán, một người tận trung  tận hiếu  cuối triều Lê, trước khi chết còn viết đôi câu đối "Tam niên chi hiếu dĩ hoàn. Thập phần chi trung vị tận" (Chữ "Hiếu" 3 năm đã xong, chữ "Trung" mười phần chưa trọn).
- Hiếu đối với người chết, còn đối với người sống thì sao? "Sự tử như sự sinh" kia mà?
- ồ, anh muốn biết con anh có hiếu hay không, xin anh hãy ráng chờ sau khi anh chết sẽ rõ. Ca dao có câu "Khi sống thì chẳng cho ăn. Đến khi chết xuống làm văn tế ruồi". Thời xưa còn thế nữa là bây giờ. Nhưng anh cũng đừng lo ruồi ăn hết phần, vì thanh niên ngày nay có biết đọc văn nữa đâu mà tế ruồi.
Đến đây lại chuyển sang mục tranh cãi giữa tôi và chú em về quan niệm chữ "Hiếu" thời xưa vàc thời nay.
- Thời nay lớp trẻ chẳng biết "Chín chữ cù lao" là cái gì. Công ơn mang nặng đẻ đau, nuôi con khôn lớn tốn bao nhiêu tâm lực, đến nay chúng nó có lớn mà chẳng có khôn.
- Tôi phàn nàn - Đã thế còn hỗn láo, bướng bỉnh...
- Đó chẳng qua là cái món nợ đồng lần, mình  nuôi con rồi nuôi cháu cũng thế. Lớp trẻ bây giờ nhiều  người nói ngược: "Sinh ra ta, nuôi ta lớn lên, đó là trách nhiệm của các ông bô bà bô". Có đứa còn trách bố mẹ: "Sao người ta ăn sung mặc sướng, được chiều chuộng. Bố mình thì "Khắt khe", "Ky bo' mà còn kể ơn huệ!" - Chú em tôi kể thêm.
Đối với những ông bố bà mẹ có những đứa con như vậy, quả thật là bất hạnh, song cũng phải khẳng định số người  đó rất ít,  vả lại khi đến tuổi trưởng thành, được tiếp thu sự giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội và qua khảo nghiệm thực tế của cuộc đời, chúng sẽ thay đổi tính tình. Bố mẹ bao giờ cũng sẵn sàng tha thứ, nước mắt chảy xuôi là lẽ thường tình.
Bàn đến câu ca dao: "Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư", rồi "Trứng khôn hơn vịt"... được dịp, con cả tôi xen vào:
- Con xin phép cha mẹ và chú, con cãi cha mẹ không phải trăm phần trăm con hư cả. Nếu cha mẹ nghĩ sai làm sai, con can ngăn thì đó có phải là bất hiếu đâu!
Ông chú gật gù tán thành:
- Cháu nói có lý. Câu "Con cãi cha mẹ trăm phần con hư" chỉ đúng khi đứa con còn thơ ấu, chứ khi đã trưởng thành có nhiều cô cậu còn khôn hơn cha mẹ. "Con hơn là nhà có phúc" mà ! Thời đại ngày nay, khoa học kỹ thuật tiến vùn vụt, tư duy chính trị, kinh tế bây giờ cũng đổi mới mà  cánh già chúng ta thường hay thủ cựu, bảo thủ  cố chấp. Âu cũng là mâu thuẫn giữa hai thế hệ...
- Theo chú, câu tục ngữ "Có con tội sống, không có con tội chết" có đúng không?
- Đúng thời xưa nhưng không đúng  thời nay. Thời xưa có câu "Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại" (có 3 điều bất hiếu với cha mẹ, trong đó không có con là điều nặng nhất). Cha mẹ ông bà tuy đã qua đời nhưng không còn sống trong ta, nếu ta không có con thì sau khi ta chết, ta cũng làm tiêu tan nốt giòng máu của bao đời tổ tiên, ông cha lưu lại. Nhưng còn tội sống thì sao ? Có ít người cho rằng nuôi con chẳng qua chỉ mang thêm tội vạ. Đã vậy sao nhiều người ghét  con lại thương cháu. Có lẽ họ nghĩ rằng chon họ đã không nối được nghiệp cha ông thì hy vọng cháu mình sẽ nối.
Trong cuốn "Một nghìn lẻ một đêm" một nhà thông thái đã trả lời đám đông: "Nỗi khổ nhất và dai dẳng nhất trên đời là có đứa con hư". Nhưng còn một mặt khác, mà là mặt tích cực và phổ biến "Con khôn nở mặt mẹ cha" "Một con một của", có ai từ. Gặp nhau người ta hỏi thăm nhau: "Mấy trai máy gái rồi ?", chứ có hỏi: "Mấy của rồi ?"đâu. Còn như câu "Trẻ cậy cha, già cậy con" ngày nay liện còn đúng không ?
Nhân nhắc đến những gương hiếu kính thời xưa được nhà vua ban biển vàng như thời vua Lê Huyền Tông cách đây gần ba trăm năm (1663-1671), ban biển đỏ với  bốn chữ vàng "Hiếu hạnh khả phong" như thời vua Hàm Nghi cách đây hơn một trăm năm (1885-1888) chú em tôi thắc mắc có tính chất gợi ý: "Thời nay thiếu gì gương hiếu kinh sao từ trung ương đến địa phương chưa thấy có hình thức khen thưởng biểu dương gì ?. Trong quyển "Nhị thập tứ hiếu" có Lục Tích người quận Cửu Chân mới 6 tuổi đến nhà họ Viên ăn tiệc xong dấu quả quýt mang về cho mẹ Quận Cửu Chân là đất Thanh Hoá ngày nay. Lục Tích cũng được liệt trong số "Thảo hai mươi bốn, thơm nghìn muôn thu", sao trong sử sách ta, không thấy nói đến.
Ông chú vừa dứt lời, cậu con trai thứ của tôi xen ngay :
- Tưởng ai nổi danh, chứ như Lục Tích giấy quýt về cho mẹ cũng đưa vào sử sách, thì ở nước ta giấy mực đâu mà thống kê cho hết, ở một vùng cũng đến hàng ngày hàng vận người. Ngay như cháu đây, lúc nhỏ cùng đi ăn giỗ với chú ở nhà thờ họ, hẳn chí còn nhớ, lúc đó cháu mới bốn, năm tuổi, cháu còn nhớ chú xé sẵn cho cháu một tài lá chuối trước khi ăn cỗ, thế rồi phần giò, phần nêm, chả, xôi, hoa quả của cháu, cháu đều gói cả lại mang về phần mẹ, phần em, mặc dầu cháu rất thèm, cháu hơn hẳn Lục Tích chứ chú!
Nghe con nhắc lại chuyện cũ, vợ tôi nhoẻn miệng cười gật đầu tán thưởng. Tôi liếc thấy vợ tôi còn rơm rớm nước mắt vì cảm động.
Cậu con thứ của tôi, bỗng quay lại phía chú, đột ngột hỏi:
- Vua ban bằng 'Hiếu hạnh" gì gì đó có đúng đối tượng không chú ? Hay lại nghe dưới  tâu báo lên, chỉ phong cho bọn lắm tiền, khéo nịnh, để được ăn khao cho to ? Chú ạ, ngày xưa các cụ ngốc lắm" "Đức Đại thánh họ Ngu vua Thuấn" thì đúng là không khôn: hiếu với cha mẹ đã đành một nhẽ, chứ với mụ gì ghẻ cay nghiệt như kiểu mẹ con Cám, gặp phải cháu thì ăn đám chứ đừng hòng "Trăm cay đắng một niềm ngon ngọt". Đời nhà ai, có người chôn con nuôi mẹ như Hán Quách Cự mà cũng được "Thơm nghìn muôn thu". Đáng lý ra triều đình phải ngiêm trị tội giết người, hơn nữa lại là tội giết hại trẻ con.
Cuối cùng chú em tôi quay sang hỏi tôi:
- Theo ý anh, thế nào là "Có hiếu", thế nào là "Bất hiếu". Giữa hai đứa con, anh chọn đứa nào, một như cháu đây: Con nhà nghèo, mới 4, 5 tuổi đã biết giành phần ngon về biếu mẹ, một là đưa giàu sang, không đúng ngày giỗ cha cũng lấy cớ bịa ra ngày giỗ, cỗ bàn linh đình để khoản đãi, cầu cạnh những kẻ cao sang, lmà ra vẻ người con chí hiếu, trong khi đó thì hắt hủi người mẹ quê mùa, lam lũ nghèo hèn như trong chuyện "Báo hiếu cha" của Nguyễn Công Hoan. Thế nào, giữa "Lục Tích nhà ta" mặc dầu có lúc còn hỗn láo bướng bỉnh và nhân vật "Chủ hãng ô tô con cọp" của Nguyễn Công Hoan, anh chọn đứa nào?
Dường như để tránh dung dưỡng cho những điều không phải, chú em tôi quay lại, nhỏ nhẹ bảo cháu:
- Cháu ạ, cháu có thể tranh luận với cha mẹ nhưng phải lễ độ, từ tốn, phải biết lựa lời, chọn lúc, tuyệt đối không được có thái độ nóng nảy, cáu gắt, hỗn láo, nhất là khi có khách, khi ra đường, giữa  công chúng, hoặc trước mặt vợ con, đừng để ông bà trên bàn thờ quở mắng bố mẹ cháu rằng không biết dạy con; đừng để vợ con cháu, em út cháu khinh nhờn bố mẹ cháu, tất nhiên cũng  khinh nhờn cả cháu. Sau này cháu sẽ rõ: có nuôi con mới biết lòng cha mẹ.
Từ nãy đến giờ nhà tôi chỉ ngồi nghe, bây giờ mới lên tiếng: "Nghe cha con, chú cháu nhà ông nói thì ai cũng  có lý "!

Xin mượn câu đó làm câu kết cho bài này.
Sưu tầm

Thứ Sáu, 21 tháng 3, 2014

Cửu diệu 2-La hầu

Trong thần thoại Hindu, Rahu, phiên âm tiếng Việt thành La Hầu, là một con rắn đôi khi nuốt mặt trời hay Mặt Trăng gây ra hiện tượng Nhật thực, Nguyệt thực. Vị thần này được miêu tả trong nghệ thuật như là một con rồng không có thân, cưỡi trên một cỗ xe do 8 con ngựa ô kéo. La Hầu là một trong các navagraha (chín hành tinh) của chiêm tinh học Vệ Đà. Rahu kala được coi là điềm gở.
Theo truyền thuyết, trong Samudra manthan, a-tu-la La Hầu đã uống một chút rượu tiên. Nhưng trước khi rượu tiên này trôi qua cổ họng của ông, Mohini (hiện thân nữ giới của thần Vishnu) đã cắt đầu ông. Tuy nhiên, cái đầu này là trường sinh. Người ta tin rằng cái đầu trường sinh này đôi khi nuốt Mặt Trăng hay mặt trời, gây ra Nguyệt Thực hay Nhật Thực. Sau đó, Mặt Trăng hay Mặt trời thoát ra khỏi lỗ hở ở cổ và kết thúc hiện tượng thực.
Về mặt thiên văn học, La Hầu và Kế Đô đánh dấu hai giao điểm trên giao tuyến của các mặt phẳng chứa hai đường bạch đạo và hoàng đạo (tương ứng là đường di chuyển của Mặt Trăng  Mặt Trời khi chúng di chuyển trên bầu trời. Vì thế, La Hầu và Kế Đô tương ứng được gọi là các giao điểm Mặt Trăng bắc và nam. Một thực tế là hiện tượng thực chỉ xảy ra khi Mặt Trời và Mặt Trăng cùng Trái Đất nằm trên một đường thẳng đi qua một trong hai điểm này đã sinh ra huyền thoại về việc nuốt Mặt Trời hay Mặt Trăng.
Trong Phật giáo, La Hầu là một trong krodhadevatas (thần linh cảm khiếp sợ).
La Hầu gắn liền với những điều sau: màu là khói, kim loại là chì và đá quý là hessonit màu vàng mật ong. Nguyên tố của nó là khí và hướng là tây nam.
 [Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia]

Sao La hầu (Mộc)
La hầu sao ấy nặng thay,
Tháng giêng Tháng bảy kỵ ngay chẳng hiền
Môn trung đổ bác hao tiền
Tửu, sắc, tài khí đảo điên những là
Đàn ông nặng hơn đàn bà
Nữ nhân khẩu thiệt sanh mà giận nhau
Hao tài tốn của ốm đau
Sinh ra ẩu đả lao đao chẳng hiền
Đàn ông bản mệnh chẳng yên
Tai nạn phản phúc của tiền tổn hao
Ăn ở ngay thẳng không sao
Rủi bị nguy hiểm ốm đau nhẹ nhàng.

     Gặp sao La hầu, thường bị ảnh hưởng xấu vào tháng Giêng, tháng 7 nên hai tháng này phải dè dặt trong nhiều việc trước khi tiến hành, ứng xử. Hung tinh ngũ hành thuộc Mộc, chủ về khẩu thiệt, đau mắt, nhức đầu, mạng Mộc, mạng Kim đều kị. Nữ mạng thường bị thị phi, khẩu thiệt, cãi vả, giận hờn. La hầu chủ về sự trói buộc, buồn rầu, thưa kiện, tang sự, tai nạn xe cộ. Chỉ thuận lợi cho việc thay đổi công ăn việc làm.
     Hạn chế mặc y phục màu đen. Không nên mưu lợi về đường thuỷ. Không sang sông khi trời mưa gió. Đi ra ngoài, gặp người đàn bà xoả tóc thì nên quay về vì có thể  gặp tai nạn.
[Theo P.V.C sưu tầm thêm trong Chân Linh Nhân Độn]
     Mỗi tháng nên cúng sao vào ngày Mùng 8 âm lịch, trong khoảng 21- 23 giờ. Bài vị để ở phía Bắc, dùng 9 ngọn đèn cầy đỏ (xếp thành hình như bên dưới), lạy/xá 8 lạy. Khấn: Cung thỉnh Thiên cung Thần thủ La hầu tinh quân toạ vị [天宮神首囉喉星君].
Lễ vật mỗi lần cúng: Trái dừa, bông, giấy tiền cúng sao (hỏi người bán ở chợ).

     Sau lần cúng vào tháng Chạp thì “hoá” (đốt) bài vị.

Hình đèn:                 0           0
                                 0           0
                                              0
                                          0
                                      0
                                          0
                                              0